(Tên gốc của chương 407: Yet Another Step)
GÓC NHÌN CỦA ARTHUR LEYWIN
Mấy hành lang tối lem nhem của
Viện Earthborn mờ đi trong tầm mắt khi tôi chạy lướt qua chúng và đi xuống dốc,
tiến sâu hơn vào hàng loạt đường hầm chằng chịt như mê cung. Không có tiếng báo
động nào vang lên, và một vài người lùn tôi gặp khi chạy lướt ngang dường như
không nhận ra bất cứ điều gì khác thường, mặc dù việc tôi vội vã chạy bổ xuống
các đường hầm đã thu hút ánh nhìn lo lắng và thắc mắc của hầu hết bọn họ.
Lượng aether đó xuất hiện một
cách vội vã, rồi tan biến gần như ngay tức khắc, từ hướng mấy phòng thí nghiệm.
Có rất ít người hay vật tạo tác (artifact) gây ra được hiện tượng như vậy, và
tôi biết rõ vị trí hiện tại của cô ả Lyra Dreide trong học viện này, nên cô ta
không phải lý do gây nên hiện tượng này.
Cô khách quý của chúng ta vẫn
ổn chứ? Tôi chuyển suy nghĩ tới cho Regis.
‘Cô ả chả liên quan gì đến đợt
tăng vọt aether kia, nếu đó là điều cậu định hỏi. Muốn tôi cùng cậu đi kiểm tra
nó không?’
Không, giờ cứ ở nguyên chỗ
cũ đi.
‘Ố yèèè,’ người bạn đồng
hành của tôi càu nhàu, sự chán nản và khó chịu của cậu ta bộc lộ ra và len lỏi
qua sự kết nối về mặt tinh thần giữa hai chúng tôi.
Khi tôi chạy về hướng gần
như ngược lại chỗ cậu ta và ả Lyra, tên Kezess cứ lởn vởn trong suy nghĩ của
tôi. Hắn đã hứa sẽ hỗ trợ Dicathen phòng thủ, nhưng không nói cụ thể những điều
gì sẽ diễn ra. Tuy nhiên, tôi không nghĩ điều đó là dịch chuyển một lũ asura
qua đây mà không báo trước với tôi. Dẫu sao tôi cũng không tin hoàn toàn vào lời
hắn nói—đặt trọn niềm tin vào hắn là ngu chạm nóc rồi—và tôi biết là nếu có lý
do gì đủ hợp lý, thì hắn sẽ đi ngược lại các thỏa thuận và gây ra một loạt hành
động đối địch thế vào.
Tuy nhiên, chuyện này có vẻ
không giống kiểu của thằng Kezess. Theo những gì tôi có thể đoán thì chuyện này
dù là rơi vào trường hợp nào thì thằng Kezess cũng chẳng thu được lợi lộc gì.
Không phải, kiểu mô típ tình huống dẫn tôi xuống mấy cái đường hầm quen quen, rồi
khi thấy hai gã lính canh người lùn vạm vỡ, mỗi người họ đều vũ trang đầy đủ
khiên, giáo, giáp hạng nặng và đang đứng gác bên ngoài phòng thí nghiệm của lão
Gideon, thì tôi cảm thấy chắc kèo rằng suy đoán của mình là đúng.
Hai người hơi nhích người khỏi
vị trí đứng gác khi thấy tôi lại gần, tỏ ra căng thẳng nhưng rồi giãn ra gần
như tức thì. Cùng lúc, họ dọng phần đế của hai tấm khiên dạng tháp xuống mặt đất.
Họ đồng thanh hô: “Kính chào, ngài Lance!” Rồi một người im lặng, còn người kia
nói tiếp, tỏ vẻ như hơi hối lỗi. “Ngài Gideon đã đưa ra những mệnh lệnh nghiêm
ngặt rằng không ai được làm phiền ngài ấy—”
Cánh cửa bật mở, và khuôn mặt
đeo kính của Emily ló ra, đôi mắt cậu ta mở to trừng trừng sau tròng kính cận.
Cấy ấy nhìn mấy gã lính canh, mở miệng định nói gì đó, nhưng lại phát hiện ra
tôi, rồi dường như đang thay đổi ý nghĩ giữa chừng. “Ồ Arthur, anh là healer
(người chữa thương) nè!”
(Nguyên văn: “Arthur, you’re
a healer!” Câu này nếu soi với vài đoạn text phía dưới thì nó có hai nghĩa.
Nghĩa một là nghĩa đen và như mình viết ở trên, tức ý Emily bảo là “cậu đến để
chữa thương luôn à?”, nghĩa hai là nghĩa bóng và phải xét dựa trên tình huống
câu chuyện phía dưới: “Ồ Arthur, đúng là cậu cứu nguy (cứu cánh) kịp thời đấy”)
Cô ấy thở gấp và quanh má
hơi ửng hồng. “À ý tớ là, tớ rất mừng vì cậu đến lúc này.” Cô ấy nói thêm với mấy
người lính canh, “Đi tìm một healer đi.”
Người lính đứng nghiêm lên
chào kiểu nhà binh, rồi sải bước đi nhanh, bộ giáp nặng nề của anh ta vang lên
sau mỗi bước chân.
(Người dịch: chào kiểu “salute”
là kiểu của binh lính chào chỉ huy nói chung, có thể là để một tay lên ngực,
lên bên vai kia, hay giơ gươm chào, hay giơ tay lên trán chào kiểu quân đội,
nói chung là tùy văn hóa và thời đại, nên ta không rõ cử chỉ ở đây là gì)
Emily kéo cửa mở ra và tôi
len qua, rồi cậu ta thả cho nó đóng sập lại sau lưng tôi.
Tôi ngạc nhiên khi thấy
trong phòng thí nghiệm trống rỗng. “Lão Gideon ở—”
“Lại đây, đi qua chỗ này,”
cô ấy vội bật lời, và đã chạy ào tới đó rồi.
Tôi đi theo cô ấy băng qua một
cánh cửa hình cổng vòm ở cuối phòng thí nghiệm, rồi đi xuống một đoạn cầu thang
và bước vào một hành lang khác. Ẩn bên dưới phòng thí nghiệm là một loạt các
phòng nhỏ hơn mà trước đây tôi chưa từng ghé, mỗi phòng được ngăn với lối hành
lang bằng một cánh cửa nặng bằng đá có khắc cổ tự (rune). Emily dừng lại chỗ
cánh cửa thứ ba ở bên phải, truyền mana vào nó và đẩy mạnh cửa.
Ở đằng sau cánh cửa đá dày cộm
là một căn phòng trần thấp, rộng, và thiếu sáng. Một cái bàn duy nhất được kéo
từ tầng trên xuống tận đây, nhưng điểm chính yếu của căn phòng này là giữa
phòng có một vòng tròn bảo vệ. Một máy tạo khiên phép nho nhỏ được kết nối với
vài viên tinh thể mana, và khi được kích hoạt sẽ tạo ra một lớp khiên phép mana
rất dày có hình vòm bọc quanh vòng tròn bảo vệ kia.
Người đang cởi trần ngồi
trên sàn, dựa lưng vào bức tường hơi cong cong là lão Gideon. Mái tóc bạc của
ông ấy rối bời, vẻ mặt hốc hác, nhợt nhạt, nhưng khi cặp mắt ông ta nhìn vào
tôi lúc tôi theo Emily vào phòng thì chúng rực lửa.
“Tôi tìm ra rồi!” ông ta nói
với giọng khàn khàn, chẳng để ý gì đến sự lo lắng của Emily. “Bí mật về những
buổi lễ ban ấn (bestowal), các vật tạo tác, mấy mẫu chú phép (spellform), mọi
thứ luôn”.
Một nụ cười điên dại xuất hiện
trên khuôn mặt ông ta, và lời lẽ bắt đầu tuôn ra ào ạt từ miệng ông ấy. “Phần
khó nhằn là trình tự của chuỗi cổ tự trên áo choàng. Trước tôi đã đoán rằng nó
giống như mật mã vậy, và con thú triệu hồi của cậu đã nói đúng ở chỗ là có một
cái bẫy được nhét vào trong này— nếu ta truyền mana vào mấy chuỗi cổ tự kia mà
sai thứ tự, chúng sẽ hút mana của ta liên tục cho đến khi ta hoặc là mất kết nối
với các cổ tự đang truyền mana vào hoặc là kiệt sức, khiến ta yếu đến mức bất động
hay thậm chí giết luôn người đang mặc cái áo choàng này, và trước khi cậu định
nói “vậy cởi nó ra”, thì việc thoát ra khỏi cái áo không phải là chuyện dễ
dàng, vì có những cái thắt lưng đằng trong áo choàng rất khó để cột vào lẫn cởi
ra, và chúng còn phải được thắt cho đúng cách để toàn bộ lượng mana ta truyền
vào di chuyển cho hợp lý.”
Lão Gideon nói xong một
tràng rồi hít vào một hơi thật sâu, và tôi định mở miệng hỏi một câu thôi, thì
ông ta lại lập tức phun lời ra ào ào. “Thật vậy đấy, cái áo choàng này cần dùng
người mặc làm một loại đường dẫn cho một số khía cạnh điều khiển cụ thể, vì vậy
nếu chỉ giữ nó trong lòng hoặc chỉ chạm vào nó bằng một tay đều không hiệu quả,
buộc phải mặc nó vào. Thành thật mà nói, trò này khá là quỷ quyệt đấy.”
Lão Gideon lắc đầu, tỏ vẻ ấn
tượng. “Nhưng,” ông ta nói tiếp, “Tôi đã tìm ra được chuỗi trình tự chính xác,
hoàn toàn tự nhiên thôi.” Ông ấy ra hiệu cho Emily, và tôi nhận thấy mình đang
lo thấp thỏm trong lòng khi cô ấy đang mặc áo choàng nghi lễ.
“Ông Gideon,” Emily nói gấp
gáp.
Cậu ấy băng qua phòng và khụy
gối xuống cạnh bên trong lúc ông ấy vẫn đang nói lảm nhảm, nhưng chỉ khi đó ông
ta mới để ý đến cậu ấy.
Lão ấy vẫn cười toe toét rồi
nói, “À, dĩ nhiên rồi. Cô Watsken đã giúp đỡ kha khá đấy, thử nghiệm từng món đồ
tạo tác riêng lẻ để đảm bảo rằng các giả thuyết của chúng tôi đ—”
“Gideon,” cô bực tức nói lại.
“Tôi đã gọi healer rồi. Chúng ta nên—”
“Hông!” lão Gideon bật lời
ra, vất vả đẩy người lão dựa vào tường để đứng lên. “Arthur, cậu đã làm tôi sao
nhãng đấy. Tôi cần chuyển sang giai đoạn thử nghiệm ngay lập tức.”
“Khoan đã,” tôi nói, giơ tay
ngăn lão lại. “Chúng ta thực sự nên nói rõ về chuyện này trước khi cố ban ấn
cho ai đó. Nếu lỡ như có gì đó không ổn…”
Lời tôi đang nói tắt dần. Cặp
lông mày đã mọc lại được phân nửa của Gideon vừa nhướng lên và nhíu lại cùng
lúc, biểu cảm của lão nằm đâu đó giữa hai thái độ bối rối và hoài nghi. Phía
sau lão ta, Emily đang nhìn chằm chằm xuống đất, lấy tay dụi dụi mắt.
Ánh mắt của tôi dõi theo
nhìn từ dáng người cởi trần mỏng manh của lão Gideon đến chỗ cái bàn, nơi đặt
cây trượng và mớ đồ tạo tác khác.
Rồi lão Gideon bùng lên một
tiếng cười hoang dại và lắc đầu, còn vai thì rung lên vì thích thú. “Cậu nghĩ
điều gì sẽ không ổn chứ? Tôi truyền mana vào và thân tôi phát nổ à?” Lão dừng,
và khuôn mặt lão thoáng lên ánh nhìn đầy suy tư trong giây lát. Lão quay sang
Emily hỏi, “Chuyện đó có phải thứ mà chúng ta đã cân nhắc không nhỉ?”
“Chờ đã,” tôi nói, cảm thấy
có vẻ không ổn. Rồi cảm giác như có cái cửa sập mới bung ra trong suy nghĩ của
mình, tôi liên kết vụ bùng nổ aether mà tôi đã cảm nhận được ban nãy với
mấy lời mà lão Gideon vừa nói. Tôi lấy tay vuốt mặt mình từ trên xuống và thở
dài. “Ông đã thử dùng nó rồi, phải không?”
Lão Gideon bật công tắc máy
phát, truyền một luồng mana vào vật tạo tác tạo khiên, và đứng vào giữa vòng
tròn bảo vệ. “Cái mẫu chú phép này? Không, dĩ nhiên, không, tôi chưa—ồ! Ý cậu
là mấy cái đồ tạo tác ban ấn. À phải, tất nhiên, tôi không thể mãi ngồi chờ cậu
đến được, phải không?”
Tôi rên rỉ. “Gideon ơi, dùng
hết sự tôn trọng của tôi mà nói nhé, chỉ có thằng nào thực sự mất trí mới dám
đem người thật ra thử nghiệm cái thứ ma thuật còn chưa biết rõ và mới hiểu được
có một phần.”
Lão Gideon nhắm mắt lại. “Mọi
phép thuật đều là hành động tự thử nghiệm đi thử nghiệm lại liên tục. Nếu tôi
nhớ không lầm, cậu đã từng khiến mình xém què vì một loạt vết gãy nứt li ti khắp
xương chân do thử nghiệm một chú phép.”
Tôi nghiến răng lại nhưng phải
thừa nhận rằng ông ta đúng. “Thôi được rồi. Nhưng trước khi ông tiếp tục vọc
sâu hơn, ít nhất có thể để tôi gọi người nào đó am hiểu về cách dùng các mẫu
chú phép này không? Ai đó có thể hướng dẫn cho ông cách dùng chúng?”
Lão Gideon mở một con mắt
ra. “Bộ tình cờ cậu thủ sẵn một pháp sư Alacrya trong túi quần hay
sao?”
“Không, không phải trong túi
quần,” tôi đáp trả. “Chỉ là… đừng làm thêm bất cứ trò gì ngu ngốc cho đến khi
tôi quay lại.”
“Đôi lúc tôi cảm thấy như cậu
không đánh giá cao tài năng thiên phú của tôi vậy.”
Có tiếng dọng chát chúa từ
chỗ cửa, và Emily giật bắn cả mình. “Ồ, đó hẳn là bà healer.”
Tôi kéo cửa ra và thấy lính
canh cùng một phụ nữ người lùn có vóc dáng nặng nề, vẻ mặt cau có khiến tôi lạnh
cả sống lưng. Bà ta nặng nề bước vào phòng, lườm quanh, và rồi dồn thẳng sự khó
chịu của mình vào lão Gideon.
Tôi luồn qua cửa để bước ra
hành lang rồi băng ngang qua lính canh nhưng vẫn còn nghe thấy âm thanh vang vọng
từ giọng nói của bà ta khi quát lên, “Đây là lần thứ sáu phải chữa cho ông
trong tuần này rồi đấy,” và rồi mấy lời bả nói biến mất.
Căn hầm giam ả Lyra Dreide
không quá xa, và tôi đã đến đó nhanh chóng. Regis dĩ nhiên đã cảm nhận được tôi
đến, và cậu ta đang đứng trước song sắt với ngọn lửa trên người bùng lên dữ dội.
“Đã có chuyện gì vậy?” Ả
Lyra lên tiếng hỏi khi tôi xuất hiện trước mặt ả. “Lúc nãy tôi cảm nhận được
con thú của ngài có vẻ kích động, nhưng nó thậm chí còn ít nói hơn cả ngài nên chẳng
trả lời.”
Tôi chẳng nói gì, và dùng
chiêu Godstep bước vào phòng giam, nắm lấy cánh tay cô ta, và lại dùng godstep
lần nữa bước ngược ra hành lang. “Ở sát bên tôi, và đừng có thử giở trò gì đấy.”
Ả retainer thở dài thườn thượt.
“Có lẽ tôi nhầm…”
Đây là lần thứ hai tôi đi đổ
dốc xuống mấy dãy hành lang thấp hơn bên dưới, chỗ Gideon đặt phòng thí nghiệm
của ông ấy. Mấy người lính canh không nói gì, nhưng bước lùi ra khỏi cửa khi
tôi dẫn theo ả Lyra và Regis vào phòng thí nghiệm, đôi mắt cứng rắn của họ theo
dõi sát sao ả retainer.
Emily nhanh chóng mở cánh cửa
trong căn phòng nhỏ bên dưới khi tôi gõ, và cả bọn cùng nhau bước vào phòng. Ả
Lyra đang tò mò nhìn mọi thứ xung quanh, ngay lập tức tập trung vào ông Gideon.
“Ông ta có một ấn trên người.”
Lão Gideon nhìn vào đôi mắt
đen, mái tóc đỏ màu lửa, luồng khí tức (aura) tự nén lại của cô ả. Da mặt ông
ta nhăn lại khi cau mày. “Không phải là cô ả quan quản trị (regent) đây sao?”
“Cả hai người soi nhau giỏi
lắm,” tôi nói với vẻ mỉa mai châm biếm. “Giờ cô ấy là tù nhân của tôi, đã từ bỏ
việc phục vụ cho kẻ thù của chúng ta và hứa sẽ tự làm bản thân trở nên hữu dụng
hơn.” Còn với cô ta, tôi hỏi, “Làm sao cô biết người ông ấy có ấn?”
“Cái ấn có dấu hiệu
(signature) mana mờ nhạt, lúc nó sáng nhất là khi mới nổi lên trên người, mặc
dù cuối cùng nó sẽ bị chính dấu hiệu mana của pháp sư sở hữu ấn che mờ đi.”
Tôi kích hoạt chiêu
Realmheart và hình ảnh các vi hạt mana bừng sáng lên trong tầm nhìn của mắt
tôi. Hẳn rồi, nằm ẩn sau dấu hiệu mana của chính Gideon là ánh sáng tinh tế nhẹ
nhàng của mẫu chú phép. Chính lúc đó tôi mới để ý đến lõi mana của ông ấy; nó vẫn
bừng sáng bằng mana, và bên trong các dòng mana đang lưu thông có một dấu vết lờ
mờ của các vi hạt aether. Trong lúc tôi đang quan sát, lượng mana đang phồng lên
này bắt đầu tan dần, làm tôi thấy lõi mana của ông ấy rõ ràng hơn.
Lượng mana tan đi rất nhanh
chóng làm lộ rõ lõi mana màu vàng nhạt của ông ấy.
“Các ngài đã tìm ra cách thức
thực hiện lễ ban ấn của Agrona,” nhỏ Lyra tiếp tục nói, giọng điệu đầy ngẫm nghĩ
xen lẫn vẻ tò mò. “Cách đảo thế cờ khôn ngoan đấy, nhưng trò này không phải là
không có rủi ro.”
“Có những rủi ro gì?” Emily
hỏi, vẫn cố đứng tránh xa ả retainer ra nhưng vẫn quan sát cô ấy với vẻ háo hức
đầy cảnh giác. “Tụi tôi cho rằng, một khi đã có mẫu chú phép trên người rồi thì
vấn đề còn lại chỉ là học cách điều khiển nó.”
Nhỏ Lyra gật đầu ngay khi
Emily nói, hơi mím môi. “Đúng vậy, luyện tập và kiên nhẫn sẽ làm một pháp sư sử
dụng thành thạo cái ấn nhận được, nhưng toàn bộ nền văn hóa của chúng tôi dựa
trên những kiến thức và việc rèn luyện để làm được điều đó. Những đứa trẻ ở
Alacrya đã chuẩn bị cho việc vận ấn thậm chí từ trước khi được lễ ban tặng diễn
ra lần đầu, tuy nhiên vẫn có rất nhiều pháp sư trẻ đã ép mình quá sức, quá gấp
và tự thiêu bản thân chúng ra tro bằng một loại ấn mà chúng chưa hiểu rõ và
không được trang bị đủ kiến thức và kĩ năng để tận dụng nó.”
Lão Gideon thở mạnh ra, còn
người Emily có vẻ hơi run khi hai gò má cậu ấy nhạt sắc dần.
“Nhưng rủi ro lớn hơn lại nằm
ở chính lễ ban tặng,” nhỏ retainer tiếp tục. “Người dân chúng tôi đã thích nghi
với các lễ ban ấn. Thậm chí các ngài có thể nói rằng bọn tôi bị nhân giống chỉ
để dùng cho mấy vụ ban ấn. Bọn tôi sinh ra đã có lõi mana, và hai mươi phần
trăm dân số chúng tôi sở hữu phép thuật. Người dân các ngài thiếu huyết thống
asura trong cơ thể, điều mà ngay cả những kẻ xoàng xĩnh thấp kém nhất ở Alacrya
cũng có. Đừng xem nhẹ tính nguy hiểm của việc này chỉ vì mới có một Imbuer (Người
Ếm Phép) duy nhất như ông ấy sống sót lành lặn sau vụ ban ấn. Quá trình ban ấn
này rất có khả năng giết chính người cố thực hiện nó.”
“Thoi!” lão Gideon mất kiên
nhẫn thốt lên. “Thật dễ thấy được việc tách biệt về mặt thời gian giữa sự phát
triển có tính hệ thống của người Alacrya vốn liên quan đến nghi lễ này với những
phép thuật ban đầu do các pháp sư cổ đại phát minh ra. Thế nếu nó hiệu quả với
họ từ nghìn năm trước, và rồi hiệu quả với người Alacrya bây giờ, vậy tại sao
nó lại không hiệu quả với cả chúng ta cơ chứ?”
(Người dịch: Hãy lưu ý
Gideon nói phép thuật hiệu quả với người Djinn từ cách đây một nghìn năm thì mốc
‘một nghìn năm’ đấy có lẽ là ông ấy nói đại, chứ ông ta cũng không chắc người
Djinn sống cách thời này bao nhiêu năm, muốn biết chính xác phải chờ từ chính
miệng những kẻ sống thời đó như Kezess hay di ảnh của người Djinn xác nhận)
Ông ta chuyển sự tập trung từ
nhìn ả ta sang nhìn tôi, nhăn mày thật sâu đầy vẻ cau có. “Có lẽ ‘tù binh’ của
cậu đang cố cản trở sự tiến bộ của chúng ta hoặc gieo rắc sự hoài nghi, hở?”
Tôi đồng thời cân nhắc cả đề
nghị ban đầu của ông ấy lẫn những gì ả retainer này nói. Sự điềm tĩnh của cô ả
dường như đối chọi trực tiếp với sự thù địch sôi nổi của ông ấy, nhưng tôi
không cảm nhận được bất kỳ sự sai lệch hay điều giả dối nào trong lời nói của
cô ả. “Những gì cô ta nói khớp với kinh nghiệm của chính tôi hồi ở Alacrya,”
tôi nói sau một lúc im lặng. “Chúng tôi sẽ tiến hành thận trọng, hiểu rõ các rủi
ro và chỗ nào cố giảm thiểu được thì giảm.”
Lão Gideon tỏ vẻ chế giễu bằng
cách giơ hai tay lên trời mừng rỡ theo kiểu một kẻ vừa cầu nguyện thành công.
“Tuyệt quá. Thế giờ tôi thắp sáng cái thứ này lên rồi xem chuyện gì sẽ xảy ra
được chưa, hay còn phải chờ ai đó trong số các người đưa thêm vài lời cảnh báo
thảm khốc nữa?”
Mồm Regis kéo rụt lại thành
một nụ cười với gương mặt như chó con. “Chỉ có điều là việc sở hữu ấn trên người
thì nghe na ná như chuyện sắp hóa thành một thằng điên thích giết chóc đang
theo chân theo một vị thánh sống đâm đầu vào chiến tranh với cả vương quốc của
lũ thần thánh,” cậu ta nói huỵch toẹt ra với vẻ thản nhiên. “Tôi không nghĩ đó
là một tác dụng phụ của mấy cái ấn, nhưng không đời nào ta biết được.”
(Người dịch: ‘vị thánh sống
(a living deity)’ ở đây là đang đá đểu Art. Ý Regis là ‘có khi có ấn xong bắt đầu
chơi ngu theo thằng Art đi đấm nhau với cả lũ asura’)
Lão Gideon bối rối khịt mũi,
lắc đầu rồi nhắm mắt lại. Sau một lúc, ông ta mở mỗi một con mắt và nhìn nhỏ
Lyra. “Vậy, ta… à thì… chỉ cần dồn mana vào ấn thôi hay sao…?”
Môi ả mím thành một đường
ngang trên gương mặt khi ả gật đầu. “Hãy cảm nhận nó. Tự thân cái ấn giờ đã là
một phần cơ thể ông, nên ông sẽ cảm nhận được nó.”
Gideon nhắm mắt lại, cau mày
sâu khi tập trung.
Với chiêu Realmheart vẫn còn
đang kích hoạt, tôi quan sát mana chảy qua người ông ấy đi vào ấn. Cái ấn sáng
lên, và mana tỏa ra từ nó trước khi chạy dọc theo cột sống đi thẳng lên rồi vào
não ông ta.
Gideon thở hổn hển. Môi lão
mấp máy, nhưng không phát ra lời nào.
“Có chuyện gì?” Emily hỏi,
những ngón tay cậu ấy giơ lên trước lớp lễ phục đang mặc và xoa xoa mấy khớp
tay trắng bệch. “Giáo sư Gideon, ông có sao không?”
“Ồ,” ông ấy nói, nghe cứ như
rên rỉ. “Đây là…”
Dòng chảy mana bị ngắt ngay
tức khắc khi ông ấy ngừng truyền dẫn mana qua các mạch trong cơ thể. Ông ấy
đang thở dốc, và đôi mắt nhắm nghiền sau mi mắt đang đảo với tốc độ nhanh.
Nhỏ Lyra cười khẩy. “Đừng
lo. Sẽ có một cơn bộc phát ập lên đầu (heady rush) khi dùng ấn mới, đặc biệt là
khi ấn đó là crest hay loại cao cấp hơn.”
Cuối cùng thì mắt lão Gideon
chớp chớp rồi mở ra. “Tôi không hoàn toàn hiểu chuyện gì vừa xảy ra,” ông thừa
nhận với vẻ hơi mơ màng. “Nó tương đương khá là kỳ diệu với việc nốc quá nhiều
cà phê trong một khoảng thời gian ngắn vậy.”
“Thế thì nó là ấn loại tinh
thần (mental),” ả Lyra trầm ngâm, chậm rãi bước quanh lớp rào chắn phòng vệ. “Có
thể là ấn của pháp sư hệ Sentry hoặc hệ Imbuer. Chắc chắn là ấn crest. Nhưng nếu
không có đúng cuốn sách để…”
Emily giơ lên quyển sách chứa
ghi chép mô tả về mọi loại ấn được cấp từ chính cây trượng này.
Nhỏ Lyra cầm lấy cuốn sách
và lật ra xem rồi ậm ừ một mình. “Nó đây. Awakened Mind (Tâm Trí Thức Tỉnh), ấn
crest của pháp sư hệ Imbuer. Tất nhiên, cũng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi
vì không phải lúc nào một ấn cũng tạo ra trải nghiệm y hệt với những gì người sở
hữu nó trước đây trải nghiệm. Những gì ghi lại trong cuốn sách này cho thấy cái
ấn kia chỉ mới được ban có hai lần, nhưng các ghi chú ở đây chỉ ra rằng việc
thành thạo nó cho phép các pháp sư hệ Imbuer chuyển đổi mana thành một loại
năng lượng tinh thần, đem lại cho người vận ấn sự tỉnh táo và tập trung.”
Cô ả đưa cuốn sách lại cho
Emily, và cậu ấy dùng cả hai tay đón lấy nó như một đứa trẻ.
“Phải, đó là những gì ta đã
cảm thấy, nhưng nó là một thứ năng lượng hỗn loạn,” ông Gideon nói, thận trọng
đẩy thân mình đứng dậy và va vào lớp khiên phép. Ông ta gạt công tắc, và lớp
rào chắn trong suốt thu nhỏ lại rồi biến mất. “Rồi nó sẽ trở nên dễ dùng hơn chứ?”
“Ồ vâng,” nhỏ Lyra xác nhận.
“Và hiệu quả sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ lên khi ông dùng ấn này thành thạo.
Khi ông đã đạt tới mức như thế, hãy thử thực hiện lễ ban ấn một lần nữa và ông
có thể nhận được một ấn khác mạnh hơn. Thường thì chúng sẽ xuất hiện, mặc dù
không phải lúc nào cũng vậy.”
Emily lần lượt nhìn từ ả
Lyra qua lão Gideon rồi đến tôi, một nỗi kinh hoàng dần ló dạng trên nét mặt cậu
ta. “Vậy là cái lão này thậm chí sẽ còn… tăng động hơn nữa ư?”
Tôi cười khúc khích tỏ vẻ
khen ngợi câu nói đó, nhưng chính lão Gideon cũng chẳng buồn để ý trong lúc
tròng cái áo tunic rộng quá khổ vào tấm lưng trần rồi vươn vai, lưng kêu răng rắc
như tiếng sỏi va lạo xạo dưới ủng.
“Vậy giờ ta chuyển sang thử
nghiệm thứ hai,” ông ấy háo hức nói.
Căn phòng trở nên yên lặng
khi cả lũ chúng tôi ngạc nhiên nhìn lão già chuyên phát minh vật tạo tác.
“Tôi biết mình đã từng nói
chuyện này quan trọng,” tôi cất lời, phá vỡ sự im lặng, “nhưng ông nên nghỉ
ngơi, dành thời gian để đảm bảo không có tác dụng phụ gì—”
Lão Gideon ngoắc ngoắc ngón
tay trước mặt tôi theo kiểu có vẻ bạo lực nhưng hài hước. “Cậu đã nói rằng chuyện
này quan trọng! Và tôi sẽ bực mình gấp ba nếu tôi làm lãng phí đà tiến tới trước
của chúng ta. Dựa theo lần trò chuyện trước đây của chúng ta, chỉ cần ở bên cậu
sẽ tăng cường loại ấn nhận được. Tôi đã lấy chính mình ra kiểm tra thử để đảm bảo
rằng quá trình này không giết chết người ban ấn hoặc kẻ nhận được mẫu chú phép,
nhưng tôi là một trường hợp lỡ cỡ ở giữa. Chúng ta đã dành một chút thời gian ở
cùng nhau kể từ khi cậu quay về, nhưng không phải quá nhiều. Giờ chúng ta cần ban ấn
cho ai đó hoàn toàn không ở gần cậu.”
Tôi bắt gặp ánh mắt của
Emily, nhưng cậu ấy chỉ nhún vai. Cậu ta biết quá rõ thầy mình cố chấp đến độ
ngu ngốc cỡ nào, và mặc dù có lẽ cậu ta không ngần ngại gì nói ra ý kiến của
bản thân, nhưng cậu ta sẽ không thử giúp tôi ngăn ông ta tiến xa hơn với thử
nghiệm này.
Ả Lyra bước lại gần ông
Gideon và nói nhẹ nhàng: “Vậy thì, sự thận trọng của tôi là đối ngược lại việc
thúc ép người ban ấn của ông hoạt động quá sức. Thực hiện nghi lễ ban tặng thì
đòi hỏi cả thể chất lẫn tinh thần. Các quan chức hành lễ ban ấn của Agrona dành
cả đời họ để luyện tập cách đảm đương việc ban ấn cho cả đám đông khổng lồ có
thể xuất hiện nhận ấn ở lễ ban tặng, và thường gánh nặng này được giảm tải bằng
cách chia sẻ giữa nhiều người ban ấn.”
Ả ta do dự, rồi nói thêm,
“Tôi tình nguyện hỗ trợ sức mình để trở thành một người ban ấn nếu ông dạy tôi
những gì ông biết về—”
“Không,” tôi đứng khoanh tay
và thẳng thừng nói. “Chúng tôi sẽ cân nhắc ai khác gánh vai trò này, nhưng hiện
tại, Emily sẽ là người hành lễ ban ấn của chúng tôi.”
Ả Lyra nhún vai rồi mỉm cười
vui vẻ. “Tất nhiên rồi, thưa ngài Quan Quản Trị Leywin. Tôi chỉ đang cố giúp đỡ
thôi.”
“Chà, vậy ta còn chờ gì nữa?”
Ông Gideon hỏi, nhìn quanh cả lũ chúng tôi. “Emily, đi tìm một người lùn cho
tôi. Còn Arthur, cậu cút khỏi đây để khỏi làm ô nhiễm thí nghiệm của tôi.”
***
“Vậy, tiếp theo là gì?”
Regis hỏi khi đang nằm cuộn tròn dưới chân tôi lúc cả hai đứng cuối hành lang.
(Nguyên văn: “he was curled
up at my feet”, cụm từ ‘curl up’ có nghĩa ‘nằm hoặc ngồi cuộn thân mình lại gọn
gàng’, tức là ta không rõ miêu tả của tác giả ở đây là đang nằm hay đang ngồi
cuộn gọn người lại như mèo)
Đã một khoảng thời gian kể từ
lần cuối một trong hai chúng tôi nói chuyện với nhau, và tôi phải gom góp sự tập
trung đang phân tán lung tung trong đầu mình lại trước khi trả lời cậu ta. “Sau
lần thử nghiệm thứ hai này á?”
“Không, sau mọi chuyện này
cơ. Chúng ta đã giành lại gần hết lục địa, phá vỡ giới hạn gã Kezess đặt lên
người các Lance, và giờ là trao mẫu chú phép thuật cho Dicathen để giúp họ đánh
ngang với mấy đứa siêu mạnh trong bất kỳ trận chiến tương lai nào. Nhưng vài ba
pháp sư lõi trắng với một nhúm hình xăm ảo lòi thì không đủ để đánh bại tên
Agrona đâu.”
Tôi tựa lưng vào tường và để
đầu mình tựa vào tảng đá mát lạnh. “Việc cung cấp các mẫu chú phép mang tính
chiến thuật như thế này có thể không giúp đánh bại được Agrona, nhưng nó sẽ
giúp ta tăng cường sức mạnh nhanh chóng khi cần và thủ thêm nhiều công cụ mới
vào túi mình, cậu biết đấy.” Tôi suy nghĩ trong vài giây. “Thêm được bất kỳ bước
tiến nào đều có thể làm ta đạt được thắng lợi chung cuộc.”
“Nhưng,” tôi tiếp tục nói
sau khi ngừng một hồi lâu, “Tôi hiểu rằng tôi và cậu còn những việc khác phải
làm. Seris đang gây chiến vì chúng ta ở Alacrya, và còn những hai tàn tích nữa
cần phải truy lùng.” Tôi vẫn chừa lại chưa nói ra vấn đề đang bao trùm đe dọa mọi
thứ khác, vấn đề mà tôi đã cố hết sức đẩy lại sau cùng trong tâm trí mình kể từ
lúc bé Sylvie hy sinh và tôi xuất hiện trong Khu Tàn Tích (Relictombs)… bởi vì
tôi vẫn không biết mình có thể làm gì với chuyện về Cecilia và Tessia.
Regis chìm vào im lặng, và
chúng tôi cùng nhau đợi Emily quay lại.
Phải tốn nhiều thời gian hơn
so với ý muốn của lão Gideon để tuyển đối tượng thử nghiệm thứ hai, một người
mà tôi chưa từng tương tác bao giờ. Chúng tôi có một số lo lắng rằng ngay cả những
tiếp xúc tình cờ sẽ ảnh hưởng đến kết quả, chẳng hạn như việc tôi nói chuyện với
các lính canh ngoài hành lang, hay hầu hết lính canh và binh lính trong Viện
Earthborn đều đã băng qua con đường tôi đi ít nhất một hoặc hai lần.
Nhưng lý do thực sự cho việc
trễ nải như vậy, đó là khi gã Skarn Earthborn khám phá ra Emily đang hỏi về
chuyện gì, anh ta nhất quyết thông báo cho chú của mình là lão Carnelian về các
cuộc kiểm tra, để lão lãnh chúa người lùn có thể lên tiếng quan điểm của
mình. Điều này tất yếu trở thành một cuộc đấu tranh giữa hai gia tộc Earthborn
và Silvershale để cử ra một thành viên trong gia tộc họ, nhưng hầu hết bọn họ đều
đã dành hàng giờ liền gần gũi với tôi trong các cuộc họp ở Hội đồng Lãnh chúa
(Council of Lords).
Nhưng rốt cuộc, tưởng sau
nhiều giờ trôi qua nhưng thực ra mới có một tiếng, Emily quay lại với một gã
lãnh chúa người lùn trẻ tuổi tên Daymor Silvershale, con trai út của Lãnh chúa
Daglun, đối thủ chính của Carnelian. Daymor cắt tỉa bộ râu đen như mực của mình
chỉ còn vài inch và tóc còn cắt ngắn hơn một chút. Gã này trông vương giả đến từng
chút một khi xuất hiện trong một bộ quần chẽn đi cùng cái áo tunic được thiết kế
riêng theo kiểu hoàng gia, với những chiếc nhẫn trên các ngón tay và một thanh
kiếm chuôi bằng vàng đeo cạnh hông.
Dĩ nhiên tôi chỉ đứng quan
sát từ cuối hành lang với Regis bên cạnh. Gã Daymor chạm mắt tôi trước khi đi
theo Emily vào phòng ban ấn, và môi gã co giật đằng sau bộ râu. Tôi nghĩ hắn ta
trông có vẻ lo lắng, và hắn càng lo hơn nữa khi hai lính canh và người tùy tùng
đã theo hắn xuống tận những đoạn hầm sâu như thế này bị yêu cầu đợi bên ngoài
hành lang.
Mặc dù tôi không thể theo
dõi quá trình ban ấn, một sự thật mà tôi thấy hơi thất vọng, nên tôi lắng nghe
giọng nói bị méo của ba người Gideon, Emily và Lyra đang giải thích mọi thứ sắp
xảy ra. Tuy nhiên, tôi tự an ủi mình rằng tôi đã từng xem lễ ban tặng trước đây
ở thị trấn Maerin, và đã biết chuyện gì sẽ xảy ra.
Chính ra bản thân buổi lễ
còn mất ít thời gian hơn nhiều so với việc đi tìm đối tượng thử nghiệm.
Khi cánh cửa mở ra lần nữa,
ba người lùn đã nhanh chóng chạy vào, tôi theo sau, tò mò nhưng đầy hy vọng.
Không có tiếng la hét hoảng loạn nào cho thấy bọn tôi vừa giết một thành viên
quý tộc nhà Silvershale, và khi nhìn qua cửa thì đúng như vậy, tôi thấy
tên Daymor đang cười toe toét khi lấy tay xoa xoa tấm lưng trần của mình.
Hắn cố quay lại để nhìn qua
vai, làm như thể hắn thấy được xương sống của mình không bằng, trong khi ông
Gideon xua những người lùn kia đứng ra rìa ngoài trong căn phòng nhỏ.
“Còn giờ, hãy cảm nhận cái ấn
này, và đẩy mana của anh vào nó. Nó sẽ cảm giác có vẻ tự nhiên, theo bản năng,”
nhỏ Lyra nói.
Gã Daymor hếch mũi về phía
cô và nhổ toẹt nước bọt xuống đất. “Như ta đã nói, ta không nhận lệnh từ kẻ rác
rưởi người Alacrya, và đặc biệt không phải từ con Đĩ Hoàng (Bitch Queen) của
Etistin.”
“Đủ rồi, Daymor,” tôi nói dứt
khoát. “Những gì chúng ta đang làm là quan trọng, và cô Lyra thuộc Thượng Huyết
Tộc (Highblood) Dreide đang ở đây theo lệnh của tôi.”
Tên người lùn này cố tỏ ra
cau có với tôi, nhưng đôi mắt mở to và thớ cơ ẩn sau bộ râu co giật làm lộ ra rằng
hắn đang sợ hãi đến nhường nào. Sau vài giây, hắn ta hắng giọng và nói, “Phải,
vậy ta bắt đầu với nó nào. Cái thứ đẫm máu này ngứa như quỷ.”
Lão Gideon rít răng vào tỏ vẻ
khó chịu. “Thôi được rồi, vậy thì có lẽ cậu sẽ nghe lời tôi. Đứng vào giữa vòng
tròn, và dồn năng lượng lên mẫu chú phép đi.”
Tên Daymor làm theo chỉ dẫn
của Gideon, ngồi vào tâm vòng tròn bảo vệ và hít vào một hơi thật sâu, khiến lồng
ngực vốn rộng càng phồng lên.
Nhỏ Lyra lùi lại để đứng cạnh
tôi. “Cảm ơn,” cô ả nói lí nhí trong mồm. “Vì đã đỡ lời cho tôi.”
“Tôi không nói đỡ,” tôi nói,
cũng giữ giọng mình nho nhỏ. “Nhưng nếu mỗi cuộc hội thoại đều phải chờ một chuỗi
chửi thề ném vào mặt cô trước thì nó sẽ trở nên nhàm kinh khủng.”
Nhỏ Lyra không trả lời, vậy
nên tôi quay lại tập trung vào gã Daymor, âm thầm kích hoạt chiêu Realmheart để
có thể quan sát dòng chảy mana. Giống như với Gideon, nó đổ ra từ lõi của tên
Daymor và chạy vào ấn của hắn, nhưng lần này kết quả của đòn phép chảy xuống
chân hắn và đi vào mặt đất.
Những khe nứt mỏng làm vỡ mặt
đất bên trong vòng tròn bảo vệ, và những ngọn lửa rực rỡ bùng lên từ dưới đất.
Tôi nhìn thấy được lằn ranh nhỏ ở chỗ các cổ tự thuộc vòng tròn bảo vệ đang
tăng cường dòng chảy mana lên nhằm ngăn đòn phép bên trong ảnh hưởng đến bất cứ
thứ gì bên ngoài vòng tròn.
“Lửa kìa, lãnh chúa của tôi
ơi!” gã tùy tùng nói, rõ ràng là bị sốc.
Gã Daymor bật cười, ồn vang
như tiếng đại bác bắn. “À, nhưng cảm thấy lạ. Tốt đấy, nhưng mà lạ!”
Xét tổng thể, nó chẳng phải
một đòn phép ấn tượng gì, nhưng tôi biết Daymor là một pháp sư chỉ dùng được
duy nhất mỗi thổ hệ. Ấn mark đã cho hắn ta khả năng niệm một đòn phép khác loại
với thuộc tính tự nhiên của hắn; chỉ riêng chuyện đó đã là một lợi ích tuyệt vời
cho pháp sư ở Dicathen. Đó chắc chắn là thứ mà bố hắn có thể dùng để khoe
khoang trong các cuộc họp của Hội đồng Lãnh chúa trong tương lai gần, đặc biệt
là khi khả năng thông thạo ấn này của Daymor ngày càng tăng.
Khi Emily và ông Gideon bắt
đầu giải thích cho Daymor về những gì sẽ mong đợi ở hắn ta—như việc luyện tập
và theo dõi hàng ngày, báo cáo về cách thức tác động của mẫu chú phép này lên
phép thuật của hắn, vân vân— thì tôi để suy nghĩ của mình trôi dạt sang câu hỏi
kế tiếp. Lẽ dĩ nhiên, lão Gideon sẽ muốn thực hiện bài thử nghiệm lần thứ ba. Lần
này là với ai đó mà tôi đã dành rất nhiều thời gian…
Mặc dù danh sách số người
như thế thì ngắn, nhưng điều đó không làm dễ chọn hơn. Tôi đã dành thời gian
cho ai đủ nhiều kể từ khi trở lại Dicathen?
Tôi tự nghĩ với chính mình,
nếu hỏi câu khác hay hơn thì, tôi sẵn sàng mạo hiểm ai trong cái danh sách ngắn
cũn này đây?
Tác giả: TurtleMe
Người dịch: Nightmoonlight
Ghi chú của người dịch:
_ Spellform = spell
formation : công thức phép thuật, hình thái phép, mẫu thức phép, mẫu chú phép. Ở
đây mình chọn chữ “mẫu thức phép”. Từ này tiếng Việt rõ ràng không có từ tương
đương, các từ như “bùa chú” hay “bùa phép” không sát nghĩa và mang tính mê tín
dị đoan, ý của cụm spellform tức là “những công thức phép thuật được viết ra sẵn
để thi triển phép thuật. Trong truyện này thì các rune (ấn/cổ tự) trên lưng người
Alacrya chính là các spellform, giúp người sở hữu thi triển cố định một đòn
phép (spell) cụ thể.
Lưu ý: mình đã sửa từ cụm “mẫu
thức phép” thành “mẫu chú phép” để đọc cho đỡ sượng mồm hơn.
_ Qua chương sau, ta sẽ biết
Alacrya gọi là “ấn (rune)” còn Art và Gideon gọi là “mẫu chú phép (spellform)”.
_ Ở chương này, cách nói lấp
lửng gây thiếu từ xuất hiện rất nhiều, cụ thể chữ rune (ấn) được lượt bớt rất
nhiều trong văn bản gốc, vì thế khi dịch mình phải áp dụng “phương pháp thêm” để
thêm từ ngữ khá nhiều nhằm rõ nghĩa khi dịch thuật, vì thế các bạn đừng thắc mắc
tại sao có thêm các cụm từ để kéo dài câu ra mà trong bản gốc không có.
_ Tóm tắt: Gideon đã tìm ra
bí mật ban ấn của Agrona.